A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Thí nghiệm thực hành  là phương pháp thực hành dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh sử dụng thiết bị và tiến hành thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết mà giáo viên đã trình bày, qua đó củng cố, đào sâu những tri thức mà họ đã lĩnh hội được hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứu vấn đề do thực tiễn đề ra.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Thí nghiệm thực hành  là phương pháp thực hành dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh sử dụng thiết bị và tiến hành thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết mà giáo viên đã trình bày, qua đó củng cố, đào sâu những tri thức mà họ đã lĩnh hội được hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứu vấn đề do thực tiễn đề ra.

- Qua thực hành học sinh nắm vững tri thức, biến tri thức thành niềm tin, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo làm công tác thực nghiệm khoa học, kỹ năng, kỹ xảo thực hiện những hành động trí tuệ- lao động, kích thích hứng thú học tập bộ môn và bồi dưỡng những phẩm chất cần thiết của người lao động mới như óc quan sát, tính chính xác, tính cẩn thận, tính cần cù, tiết kiệm, tổ chức lao động có khoa học.

 

 *Chức năng của thí nghiệm theo quan điểm lí luận dạy học

     - Trong dạy học vật lí, thí nghiệm đóng một vai trò cực kì quan trọng, dưới quan điểm lí luận dạy học vai trò đó được thể hiện những mặt sau:

            + Thí nghiệm có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học

+ Thí nghiệm vật lí có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học như đề xuất vấn đề nghiên cứu, giải quyết vấn đề (hình thành kiến thức, kĩ năng mới...), củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng, kĩ xảo của học sinh.

+ Thí nghiệm góp phần vào việc phát triển toàn diện học sinh

+ Thí nghiệm là phương tiện góp phần quan trọng vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh.

+ Thí nghiệm là phương tiện kích thích hứng thú học tập của học sinh

      Chính nhờ thí nghiệm và thông qua thí nghiệm mà ở đó học sinh tự tay tiến hành các thí nghiệm, các em sẽ thực hiện các thao tác thí nghiệm một cách thuần thục, khơi dậy ở các em sự say sưa, tò mò để khám phá ra những điều mới, những điều bí ẩn từ thí nghiệm và cao hơn là hình thành nên những ý tưởng cho những thí nghiệm mới. Đó cũng chính là những tác động cơ bản, giúp cho quá trình hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hơn.

 

                

Thí nghiệm là phương tiện giúp các em trải nghiệm của học sinh

Qua thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải làm việc tự lực hoặc phối hợp tập thể, nhờ đó có thể phát huy vai trò cá nhân hoặc tính cộng đồng trách nhiệm trong công việc của các em.

 

 

Thí nghiệm vật lý góp phần làm đơn giản hoá các hiện tượng và quá trình vật lý

1.2. Thí nghiệm biểu diễn và những yêu cầu cơ bản khi sử dụng

Dựa vào hoạt động của giáo viên và học sinh, có thể phân thí nghiệm vật lí thành hai loại: thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm học sinh. Đối với thí nghiệm biểu diễn, dựa vào mục đích sử dụng thí nghiệm, có thể phân các loại như sau:

+ Thí nghiệm mở đầu: là những thí nghiệm được dùng để đặt vấn đề định hướng bài học. Thí nghiệm mở đầu đòi hỏi phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.

+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng mới: được tiến hành trong khi nghiên cứu bài mới. Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng mới có thể là thí nghiệm khảo sát hay thí nghiệm kiểm chứng.

+ Thí nghiệm củng cố: là những thí nghiệm được dùng để cũng cố bài học. Cũng như thí nghiệm mở đầu, thí nghiệm cũng cố cũng phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.

Để có thể phát huy tốt vai trò của thí nghiệm biểu diễn trong dạy học vật lí, giáo viên cần phải quán triệt các yêu cầu sau đây trong khi tiến hành thí nghiệm.

Thứ nhất, thí nghiệm biểu diễn phải gắn liền hữu cơ với bài giảng. Thí nghiệm là một khâu trong tiến trình dạy học, do đó nó phải luôn gắn liền hữu cơ với bài giảng, phải là một yếu tố tất yếu trong tiến trình dạy học. Nếu thí nghiệm biểu diễn không gắn liền hữu cơ với bài giảng thì không thể phát huy tốt vai trò của nó trong giờ học. Muốn thí nghiệm gắn liền hữu cơ với bài giảng, trước hết thí nghiệm phải xuất hiện đúng lúc trong tiến trình dạy học, đồng thời kết quả thí nghiệm phải được khai thác cho mục đích dạy học một cách hợp lí, lôgic và không gượng ép.

Thứ hai, thí nghiệm biểu diễn phải ngắn ngọn hợp lí. Do thời gian của một tiết học chỉ 45 phút, trong khi đó thí nghiệm là một khâu trong tiến trình dạy học, vì vậy nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến các khâu khác, tức là ảnh hưởng đến tiến trình dạy học chung. Bởi vậy, phải căn cứ vào từng thí nghiệm cụ thể để giáo viên quyết định thời lượng cho thích hợp.

Thứ ba, thí nghiệm biểu diễn phải đủ sức thuyết phục. Trước hết thí nghiệm biểu diễn phải thành công ngay, có như vậy học sinh mới tin tưởng, thí nghiệm mới có sức thuyết phục thuyết phục đối với học sinh. Ngoài ra, cần phải chú ý rằng, từ kết quả của thí nghiệm lập luận đi đến kết luận phải lôgic và tự nhiên, không miễn cưỡng và gượng ép, không bắt học sinh phải công nhận. Cần phải giải thích cho học sinh nguyên nhân khách quan và chủ quan của những sai số trong kết quả thí nghiệm.

Thứ tư, thí nghiệm biểu diễn phải đảm bảo cả lớp quan sát được. Phải được bố trí thí nghiệm để cho cả lớp có thể quan sát được và phải tập trung được chú ý của học sinh vào những chi tiết chính, quan trọng. Muốn vậy, giáo viên cần chú ý từ khâu lựa chọn dụng cụ thí nghiệm đến việc bố trí sắp xếp dụng cụ sao cho hợp lí. Nếu cần thiết có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật, như: Camera, đèn chiếu, máy chiếu qua đầu, máy vi tính... để hỗ trợ.

Thứ năm, thí nghiệm biểu diễn phải đảm bảo an toàn. Trong khi tiến hành thí nghiệm biễu diễn không được để thí nghiệm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh. thí nghiệm phải an toàn, tránh gây cho học sinh cảm giác lo sự mỗi khi tiến hành thí nghiệm.

– Để thực hiện những thí nghiệm một cách có hiệu quả, cần chú ý đến những kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm cơ bản sau:

+ Sắp xếp dụng cụ: Các dụng cụ thí nghiệm phải được bố trí và sắp xếp sao cho lôi cuốn được sự chú ý của học sinh và đảm bảo cho cả lớp quan sát được. Muốn vậy phải lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm có kích thước đủ lớn và phải sắp xếp những dụng cụ này trong cùng một mặt phẳng thẳng đứng để chúng không che lấp lẫn nhau. Những dụng cụ quan trọng phải đặt ở vị trí cao nhất, dụng cụ thứ yếu đặt thấp hơn và dụng cụ không cần thiết để học sinh quan sát thì có thể che lấp.

+ Dùng vật chỉ thị: Để tăng cường tính trực quan của các thí nghiệm ta có thể dùng các vật chỉ thị, chẳng hạn: Dùng màu pha vào nước; dùng khói trong thí nghiệm truyền thảng ánh sáng, hoặc trong thí nghiệm đối lưu của không khí...

+ Dùng các phương tiện hỗ trợ như: Đèn chiếu; Gương phẳng; Video Camera ./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
BÌnh luận facebook
Thư viện ảnh